Công nghệ thực tế ảo mang đến sự thấu cảm và thay đổi hành vi cá nhân

Nhà báo Jessica Leigh Hester là một cây bút của tờ báo citilab.com chuyên bình luận về tầm ảnh hưởng của các công nghệ mới tới cuộc sống hiện đại đặc biệt là tới các vấn đề xã hội, sức khỏe và môi trường. Bài viết được CEP đăng lại như là một phần trong chủ đề tiếng Anh: "Những nghiên cứu thay đổi thế giới" trên hệ thống Timeline Learning

Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu rằng làm thế nào công nghệ thực tế ảo có thể giúp chúng ta xây dựng sự đồng cảm và thay đổi hành vi cá nhân của mình.

Cuối tuần qua, tại cuộc triển lãm bảo tàng, tôi đeo kính thực tế ảo, chiếc kính xóa sạch thế giới xung quanh tôi. Tôi không thể nghe thấy tiếng giày bước lên những viên đá bên ngoài cửa sổ. Tất cả những gì mà tôi có thể thấy là một phần tàu bằng gỗ dài trôi qua dòng nước chảy róc rách, bên dưới những căn nhà tựa lên sàn. Cơ thể của tôi đã tan biến, tôi cứ mò tìm bàn tay của tôi và không thể tìm thấy. Nhưng tôi nghĩ tôi có thể cảm nhận được làn gió xào xạc tóc của tôi và nước đang nhỏ giọt lên cánh tay tôi. Khi tôi mở mặt nạ ra, nhấp nháy ánh sáng xế chiều, các đường phố mà tôi không thực sự cảm nhận rõ khi tôi còn mường tượng đến con tàu đó và đại dương đó.

Đó là một dấu hiệu của công nghệ thực tế ảo- nó có khả năng đem lại cho người dùng những trải nghiệm mô phỏng, tạo ra các phản ứng cảm xúc thực. Một số nhà nghiên cứu đang cố gắng để khai thác sức mạnh đó để thay đổi hành vi con người cho tốt hơn.

Một nghiên cứu mới được công bố trên Tạp chí Truyền Thông Bằng Máy tính cho rằng: môi trường kỹ thuật số theo nhập vai có thể thổi bùng cảm giác kết nối với thiên nhiên của người sử dụng và tạo ra sự đồng cảm với thế giới tự nhiên và làm cho con người quản lý tốt hơn về nó.

Dự án mới này được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu từ Đại học Georgia, Stanford và Đại học Connecticut nhằm mục đích để xem liệu VR (công nghệ thực tế ảo) có thể giúp người dùng thấu hiểu những trải nghiệm của động vật. Trong thí nghiệm đầu tiên, các cộng tác viên yêu cầu người tham gia bắt chước một con bò, bò bằng tay và đầu gối, khom lưng để ăn và uống nước trước khi bị đưa vào một chiếc xe để vận chuyển chúng đến lò mổ. Thí nghiệm thứ hai là tái tạo lại cảm giác của san hô đang chết trong một đại dương bị axit hóa. Mang lại một trải nghiệm sống khác, người tham gia cảm nhận được sự rung động trên sàn nhà và nghe thấy âm thanh nứt trong các nhánh của san hô vỡ ra. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người tham gia VR (công nghệ thực tế ảo) cảm thông với những cảnh tượng đó hơn là một nhóm kiểm soát xem một trải nghiệm tương tự trên video.

This new project, conducted by researchers from the University of Georgia, Stanford, and the University of Connecticut, aimed to see whether VR could help users empathize with animals’ experiences. In the first experiment, the collaborators asked participants to model a cow, crawling on their hands and knees, stooping to eat and drink water before being prodded into a vehicle to transport them to the slaughterhouse. The second experiment recreated the sensation of coral dying in an acidifying ocean. To create an immersive experience, participants felt vibrations in the floor and heard cracking sounds as the coral’s branches broke off. The researchers found that the VR participants empathized with the scenarios more than a control group watching a similar experience on video.

"Các nghiên cứu đã báo cáo kết quả có được ở đây dẫn việc nghiên cứu các quan điểm ở một cấp độ mới bằng cách cho phép người tham gia tưởng tượng ra viễn cảnh tương như như con bò hoặc san hô", các tác giả viết. "Những người tham gia cảm thấy quyền sở hữu của cơ thể con vật ảo và cảm nhận tâm linh tương thông của bản thân với thiên nhiên."

VR dường như cung cấp một cách để giúp thu hẹp khoảng cách giữa hành vi cá nhân và làm rộng hơn những kết quả đạt được. Grace Ahn -một đồng tác giả và một trợ lý giáo sư tại Đại học Georgia chia sẻ với tờ báo The Guardian: "Một trong những vấn đề lớn nhất về môi trường là có một khoảng cách thời gian rất lớn; vì vậy, có vẻ như bất cứ điều gì bạn làm trong hiện tại không thực sự kết nối với các vấn đề môi trường trong tương lai,"

Nói một cách khách quan thì chúng tôi biết rằng: các sản phẩm điện tử lỗi thời đang rò rỉ chất độc hại vào đất và nước; thực phẩm thừa thải vứt đầy các bãi rác và tiêu tốn tất cả các nguồn lực vào sản xuất. Thời gian trôi với đủ các khối lượng, các hành vi cá nhân và đã làm tăng thêm, khuếch đại vấn đề lớn hơn.

Nhưng rất dễ dàng để xem xét mối liên kết nào đó-như trong một đánh giá công nghệ của học viện MIT đã lưu ý rằng: "những kết nối đó có tính trừu tượng và các hiệu ứng đôi khi quá xa hoặc bị chìm dưới lòng đất. Ngay cả các quan điểm của PSA (thông báo dịch vụ công cộng)- cũng giống như thông báo từ Ad Council (Tổ chức phi lợi nhuận) rằng hình dung quá trình theo một quả dâu tây đang mọc từ dây leo vươn ra trong bãi rác- rất dễ bị bỏ qua. Trái cây khô héo đó cũng có thể đang bị nấm mốc trong tủ lạnh của người nào đó khác.

"Đây là những gì bạn làm hôm nay và đây là những gì có thể xảy ra 100 năm theo bước đường này. "

Có một nghiên cứu tổng thể phát triển theo hướng: làm thế nào để công nghệ thực tế ảo có thể được sử dụng để nuôi dưỡng sự đồng cảm và nhiều tổ chức đang mang nó vào thực tế. Liên Hợp Quốc sẽ tung ra sáng kiến áp dụng VR nhằm giúp người xem đồng cảm với những người tị nạn Syria hoặc một gia đình ở Gaza, những bức tường cháy đen do súng và bom. Các dự án khác tại đại học Southern California Institute for Creative Technologies đưa người dùng vào một mô phỏng chiến đấu thực tế để giúp họ hiểu rõ hơn về những chịu đựng của những người thân đang bị PTSD (Rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý) sau khi phục vụ trong quân đội. Hiệu quả tổng hợp là "một ý thức sâu sắc hơn về những gì người thân yêu của họ đã trải qua," Albert USC "Bỏ" Rizzo nói với chương trình radio Here & Now. VR cũng được sử dụng trong đào tạo cảnh sát để mô phỏng các tương tác đòi hỏi phải đưa ra quyết định cực kì nhanh.

Nghiên cứu mới góp phần thêm vào những phát hiện trước đây về VR như một chất xúc tác cho trách nhiệm cá nhân, có khả năng thuyết phục mọi người thay đổi hành vi ngay cả sau khi họ trở lại trong thế giới thực. Trong năm 2011, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm tương tác của con người ảo Stanford do giáo sư Jeremy Bailenson đứng đầu, yêu cầu những người tham gia thực hiện một rung động, dùng "cưa" để cưa một cây trong một khu rừng được mô phỏng. Sau khi sử dụng qua mô phỏng đó, nhóm VR đã sử dụng giảm đi 20% số khăn ăn để lau sau khi ăn hơn những người tham gia đọc một đoạn văn miêu tả cây bị chặt.

Công nghệ VR vá lành vết thương giữa hành động của con người và hậu quả để lại trong thiên nhiên, Ahn nói với tờ báo The Guardian, chứng tỏ "các mối quan hệ nhân quả thực sự này- những gì bạn làm hôm nay và đây là những gì có thể xảy ra 100 năm trên bước đường này."

Ý nghĩa đó là thực tế ảo có thể tạo liên kết giữa người sử dụng và thế giới lớn hơn không chỉ cảm nhận được mà còn không thể trốn tránh được. Đó là một phần do công nghệ VR làm nhịp cầu xóa đi ranh giới giữa giải trí thụ động và chủ động; giữa tưởng tượng và trải nghiệm được -quan sát được. Khi sự hóa thân chúng ta vào những người cưa cây, một vấn đề như sự bảo tồn không còn là một thứ vô hình xảy ra trong một thế giới xa xôi nữa, không còn quá xa để thôi thúc chúng ta điều chỉnh hành vi của mình nữa.

Bailenson nói với tờ tạp chí chuyên ngành Popular Science: "Chúng ta không thể khiến cho tất cả mọi người đọc các bài báo khoa học về biến đổi khí hậu, vì vậy đây là cách nhanh nhất cho tất cả điều đó. Chúng ta muốn mọi người đi ra khỏi ranh giới đó và cảm nhận được sự đồng cảm,muốn hành động."

 

Dịch bởi: hongnhung

Tin khác